Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi, đơn vị đã tổ chức nghiệm thu kết quả thực hiện đề tài "Điều tra, thu thập, đánh giá và bảo tồn nguồn gen giống nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi". Đề tài do Trường Đại học Quy Nhơn chủ trì thực hiện, TS. Nguyễn Thanh Liêm làm Chủ nhiệm. Đề tài đã góp phần khôi phục và bảo tồn nguồn gen có nguy cơ mai một, đồng thời xây dựng được quy trình kỹ thuật và mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện địa phương. Kết quả nghiên cứu mở ra tiềm năng phát triển vùng chuyên canh lúa nếp đặc sản, nâng cao chất lượng giống, tăng thu nhập cho người dân và góp phần phát triển nông nghiệp bền vững tại tỉnh Quảng Ngãi.
Từ kết quả báo cáo cho thấy, nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương là hai giống lúa nếp đặc sản lâu đời của tỉnh Quảng Ngãi, nằm trong danh mục bảo tồn và phát triển nguồn gen. Tuy nhiên, các giống này đang bị pha tạp, thoái hóa nghiêm trọng, diện tích canh tác có xu hướng giảm, năng suất chưa ổn định. Kết quả điều tra tại 60 hộ trồng nếp Ngự Sa Huỳnh cho thấy năng suất chủ yếu dao động 30 - 40 tạ/ha (chiếm 61,67%), trong khi đối với nếp Cút địa phương, năng suất phổ biến 20 - 30 tạ/ha (chiếm 76,67%). Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phục tráng, bảo tồn và phát triển nguồn gen nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Cơ quan chủ trì, chủ nhiệm đề tài đã thu thập 100 mẫu giống nếp Ngự Sa Huỳnh tại 06 địa điểm và 100 mẫu nếp Cút địa phương tại 03 địa điểm. Tỷ lệ nảy mầm của các mẫu nếp Ngự Sa Huỳnh dao động 87,33 - 97,76%; nếp Cút địa phương dao động 80 - 90,67%, trung bình 85,11%. Đồng thời xây dựng bảng mô tả 59 chỉ tiêu nông sinh học đối với nếp Ngự Sa Huỳnh và 54 chỉ tiêu đối với nếp Cút địa phương. Lựa chọn được 4 mẫu giống nếp Ngự Sa Huỳnh và 4 mẫu giống nếp Cút địa phương có đặc tính ổn định phục vụ bảo tồn và phát triển.
Báo cáo cho biết, đề tài đã tiến hành phục tráng thành công hai giống lúa nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương. Đặc biệt, sản xuất được 300 kg hạt giống nếp Ngự Sa Huỳnh; 300 kg hạt giống siêu nguyên chủng đạt tiêu chuẩn Quốc gia về quy trình sản xuất hạt giống cây trồng tự thụ phấn (TCVN 12181:2018).
Trong đó, giống nếp Ngự Sa Huỳnh đạt hiệu quả cao nhất ở công thức P1M3 (100 kg giống + 90 kg N + 60 kg P₂O₅ + 70 kg K₂O/ha) với năng suất 46,18 tạ/ha, lợi nhuận 29,63 triệu đồng/ha. Giống nếp Cút địa phương đạt hiệu quả cao nhất ở công thức P2M1 (cấy 45 khóm/m² + 100 kg N + 60 kg P₂O₅ + 70 kg K₂O/ha) với năng suất 36,31 tạ/ha, lợi nhuận 13,65 triệu đồng/ha.
Kết quả đề tài đã cho thấy, giống nếp Ngự Sa Huỳnh có thời gian sinh trưởng 119 ngày (rút ngắn 4 ngày so với đối chứng), chiều cao cây 132,08 cm (thấp hơn 8,51 cm so với đối chứng), chiều dài bông 26,48 cm, khối lượng 1.000 hạt là 32,65 g (đối chứng 32,18 g), tổng chi phí là 51,336 triệu đồng/ha, năng suất: 4,82 tấn/ha. Với giá bán 20.000 đồng/kg cho doanh thu 94,400 triệu đồng/ha, lãi ròng: 45,064 triệu đồng/ha, cao hơn sản xuất đại trà 10,672 triệu đồng/ha. Hiệu quả kinh tế đạt 31,03%, tỷ suất lãi/vốn là 0,88 lần.
Đối với giống nếp Cút địa phương có thời gian sinh trưởng 153 ngày (rút ngắn 9 ngày), chiều cao cây 148,46 cm (thấp hơn 4,54 cm so với đối chứng), chiều dài bông 28,76 cm. Số nhánh/cây là 8,77 nhánh, nhánh hữu hiệu là 8,37 nhánh, khối lượng 1.000 hạt là 25,40 g. Tổng chi phí 66,649 triệu đồng/ha, năng suất đạt 3,62 tấn/ha, giá bán 22.000 đồng/kg, doanh thu 79,244 triệu đồng/ha, lãi ròng 12,992 triệu đồng/ha, thấp hơn sản xuất đại trà 6,720 triệu đồng/ha.
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng đã trao đổi, thảo luận, đánh giá khách quan, minh bạch và bỏ phiếu chấm điểm với số điểm trung bình 85,6 điểm, theo quy định hiện hành đề tài được nghiệm thu với kết quả xếp loại Đạt.